Tư duy theo mục tiêu là phương pháp tư duy xuất phát từ việc xác định mục tiêu, lấy mục tiêu làm căn cứ lựa chọn con đường, phương tiện và công cụ hành động, tạo nên sự linh hoạt trong tổ chức và triển khai hoạt động thực tiễn; trong khi, tư duy theo phương tiện góp phần bảo đảm trật tự và ổn định. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, tư duy theo mục tiêu luôn gắn với việc coi trọng phương tiện, nhờ đó tránh được giáo điều, cứng nhắc, tận dụng hiệu quả cơ hội để hiện thực hóa mục tiêu. Trong kỷ nguyên mới, phương pháp tư duy này có ý nghĩa quan trọng đối với hoạch định và triển khai đường lối đối ngoại, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển của đất nước.
![]()
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với các đại biểu Liên Xô và nước ngoài dự Đại hội 22 Đảng Cộng sản Liên Xô_Ảnh: TTXVN
Phương pháp tư duy Hồ Chí Minh
Tư duy theo mục tiêu và tư duy theo phương tiện
Tư duy theo mục tiêu là cách tiếp cận xuất phát từ việc xác định rõ mục tiêu, lấy mục tiêu là kim chỉ nam; trên cơ sở đó, lựa chọn con đường, phương tiện và sách lược phù hợp nhằm hiện thực hóa mục tiêu. Theo cách tư duy này, mục tiêu giữ vai trò trung tâm, còn các yếu tố, như nguyên tắc, phương châm, chiến lược, sách lược,… được xem là phương tiện thực hiện mục tiêu. Tư duy theo mục tiêu không tuyệt đối hóa bất kỳ phương tiện cụ thể nào; phương tiện có thể được điều chỉnh linh hoạt tùy theo hoàn cảnh, song phải bảo đảm đúng mục tiêu đã xác định. Ưu điểm nổi bật của tư duy theo mục tiêu là hạn chế khuynh hướng giáo điều, cứng nhắc, qua đó tăng tính linh hoạt trong hành động. Tuy nhiên, nếu vận dụng linh hoạt thiếu kiểm soát, không đặt trong khuôn khổ mục tiêu rõ ràng và nhất quán thì có thể làm suy giảm hiệu quả của quá trình thực hiện mục tiêu.
Tư duy theo phương tiện là lối tư duy chú trọng nguyên tắc, quy trình, cách thức, quy phạm, công cụ trong hành động. Hạn chế của cách tiếp cận này là có thể dẫn tới khuynh hướng giáo điều, cứng nhắc, nhất là khi xảy ra sự nhầm lẫn giữa phương tiện và mục tiêu. Tuy nhiên, tư duy theo phương tiện có ưu điểm quan trọng, như bảo đảm tính kỷ luật và trật tự, duy trì sự ổn định và nhất quán của hệ thống, hạn chế tình trạng tùy tiện trong tổ chức và thực hiện công việc, đặc biệt là khi được đặt trong khuôn khổ của mục tiêu rõ ràng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không trực tiếp bàn luận hay trình bày về phương pháp tư duy. Tuy nhiên, thông qua tư liệu về cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng của Người, nhất là trong quá trình hoạch định và triển khai quyết sách đối nội và đối ngoại, có thể nhận thấy phương pháp tư duy theo mục tiêu thường được Người vận dụng trên tinh thần nhất quán, linh hoạt, sáng tạo.
Xác định rõ mục tiêu, kiên định thực hiện mục tiêu
Ngay khi rời bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rõ mục tiêu xuyên suốt là giải phóng dân tộc, “giúp đồng bào”(1). Xuất phát từ mục tiêu đó, Người chủ động đến nhiều nước, như Mỹ, Anh, Pháp để khảo nghiệm thực tiễn và tìm kiếm con đường phù hợp. Khi trả lời một nhà văn Mỹ về lý do ra nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho biết: “Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”(2). Điều đó cho thấy, mọi hoạt động của Người (lúc bấy giờ mang tên Nguyễn Ái Quốc) đều bắt đầu từ mục tiêu đã xác định, còn con đường và phương thức hành động được lựa chọn trên cơ sở phục vụ mục tiêu ấy.
Trong quá trình hoạt động tại Pháp, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tham gia Đảng Xã hội Pháp vào đầu năm 1919. Khi được hỏi về lý do gia nhập, Người khẳng định: “Chỉ vì đây là tổ chức duy nhất ở Pháp bênh vực nước tôi”(3). Cuối tháng 7-1920, sau khi tiếp cận “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V. I. Lê-nin, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc hoàn toàn tin theo V. I. Lê-nin và Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản), bởi Luận cương đã chỉ rõ trách nhiệm của các đảng cộng sản trong việc giúp đỡ phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa(4).
Ngày 29-12-1920, tại Đại hội Tua, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế III. Khi lý giải lựa chọn này, Người nhấn mạnh: “Rất đơn giản. Tôi không hiểu… thế nào là chiến lược, chiến thuật vô sản và nhiều điểm khác! Nhưng tôi hiểu rõ một điều: Quốc tế III rất chú ý đến vấn đề giải phóng thuộc địa… Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”(5). Qua đó có thể thấy, trong mọi lựa chọn chính trị và tổ chức, mục tiêu giải phóng dân tộc luôn là tiêu chí cao nhất chi phối tư duy và hành động của Người.
Ngày 3-2-1930, tại Hội nghị thành lập Đảng, Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo được thông qua, qua đó khát vọng cứu dân, cứu nước của Người được xác lập thành mục tiêu của Đảng. Hai văn kiện nêu rõ mục tiêu cách mạng: Về phương diện xã hội: Dân chúng được tự do tổ chức… Về phương diện chính trị:… làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập(6).
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, tư duy theo mục tiêu của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện ngày càng rõ nét. Ngày 9-10-1945, Người ký Sắc lệnh số 50, trong đó lần đầu tiên tiêu ngữ “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” được đặt dưới Quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa(7). “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” trở thành mục tiêu cốt lõi của cách mạng Việt Nam. Mặc dù ba thành tố được đặt ngang nhau, song trong tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ý nghĩa và vị trí của từng thành tố không hoàn toàn đồng nhất. Trong thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng ngày 17-10-1945, Người nhấn mạnh: “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(8).
Trong mối quan hệ với “tự do, hạnh phúc” (của nhân dân), “độc lập” (của đất nước) được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định vừa là mục tiêu trung gian, vừa là phương tiện. Trong khi khẳng định tự do, hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu cuối cùng, Người luôn đề cao vai trò của độc lập dân tộc. Độc lập vừa là mục tiêu cần đạt tới, vừa là điều kiện tiên quyết để thực hiện mục tiêu tự do, hạnh phúc cho nhân dân; không có độc lập, không thể có tự do, hạnh phúc.
Phân biệt mục tiêu cuối cùng và mục tiêu trung gian
Trong khi kiên định mục tiêu cuối cùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định rõ mục tiêu trung gian (mục tiêu trong từng giai đoạn) phù hợp với bối cảnh cụ thể của từng giai đoạn cách mạng. Trong những năm 1945 – 1946, mục tiêu trung gian được xác định nhằm giữ vững chính quyền cách mạng, tranh thủ thời gian để củng cố lực lượng, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài. Tháng 9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng cụ Huỳnh Thúc Kháng, khi đó là Bộ trưởng Bộ Nội vụ, đã gặp tướng Lư Hán – người đứng đầu lực lượng Quốc dân Đảng Trung Quốc tại miền Bắc Việt Nam. Sau khi quan sát thái độ của phía Quốc dân Đảng, phân tích rõ tình hình trong nước lúc bấy giờ, Chủ tịch Hồ Chủ Minh nhấn mạnh: “Vấn đề chính hiện nay là giữ vững lấy chính quyền, cần tranh thủ thời gian để củng cố chính quyền…, rồi thế nào nữa, sau rồi sẽ liệu”(9).
Khi xác định rõ mục tiêu trung gian, cách thức thể hiện mục tiêu cuối cùng có thể được điều chỉnh một cách linh hoạt, phù hợp với tương quan lực lượng và bối cảnh cụ thể. Quyết định ký kết Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh là minh chứng tiêu biểu. Mục tiêu cuối cùng của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc, song trong điều kiện tương quan lực lượng giữa ta và Pháp lúc bấy giờ, việc buộc Pháp công nhận nền độc lập của Việt Nam, kể cả trên danh nghĩa, là chưa thể thực hiện.
Ngày 28-2-1946, Hiệp định Hoa – Pháp được ký kết, theo đó Pháp được quyền thay thế quân đội Tưởng ở miền Bắc Đông Dương. Để quá trình thay quân diễn ra thuận lợi, Pháp chủ trương đạt được một thỏa thuận với Việt Nam nhằm tránh xung đột quân sự với cả quân đội Tưởng và lực lượng cách mạng Việt Nam. Trong khi đó, một số lực lượng chính trị đối lập trong nước tìm cách lợi dụng tình hình, kích động căng thẳng, làm gia tăng nguy cơ đặt chính quyền cách mạng non trẻ vào thế đối đầu cùng lúc với nhiều lực lượng.
Từ kết quả các cuộc họp giữa đại diện chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đại diện chính phủ Cộng hòa Pháp từ ngày 1 đến 3-3-1946, theo các tài liệu đã được giải mật, trong cuộc gặp với đại diện quân đội Tưởng với Chủ tịch Hồ Chí Minh vào tối ngày 5-3-1946, để tránh nguy cơ dàn xếp riêng có thể xảy ra giữa Pháp và quân đội Tưởng (thực tế đã có giao tranh), kéo theo khả năng xung đột trực tiếp giữa Pháp và quân, dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề xuất ký kết một Hiệp định Sơ bộ, với điều kiện Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do. Vào 16 giờ 30 phút, ngày 6-3-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh – thay mặt chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Gi. Xanh-tơ-ny – đại diện chính phủ Cộng hòa Pháp, ký kết Hiệp định Việt – Pháp, trong đó khẳng định “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là quốc gia tự do, có Chính phủ, Quốc hội, quân đội, tài chính của mình”(10).
Ngày 7-3-1946, phát biểu tại cuộc mít-tinh lớn của nhân dân Thủ đô Hà Nội để giải thích nội dung của Hiệp định, đồng chí Võ Nguyên Giáp nhấn mạnh: “Nước Pháp công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một nước tự do; tự do không phải là tự trị, nhiều hơn tự trị nhưng vẫn chưa phải là độc lập… Sau khi giành được tự do, chúng ta sẽ tiến tới giành độc lập, độc lập hoàn toàn”(11).
Linh hoạt trong sử dụng phương tiện
Trên cơ sở xác định rõ mục tiêu, biện pháp được Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng hết sức linh hoạt, phù hợp với bối cảnh cụ thể của từng giai đoạn. Tháng 7-1939, khi xác định đường lối, chủ trương cho cách mạng Đông Dương thời kỳ 1936 – 1939, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc viết: “Khẩu hiệu đấu tranh: “Lúc này, Đảng không nên đưa ra những đòi hỏi quá cao (độc lập dân tộc, nghị viện v.v.)… Phải ra sức tổ chức Mặt trận dân tộc dân chủ rộng rãi… Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất”(12). Quan điểm này của Người thể hiện rõ sự điều chỉnh linh hoạt về sách lược và hình thức đấu tranh, nhằm tập hợp lực lượng rộng rãi nhất để phục vụ mục tiêu lâu dài của cách mạng.
Đầu tháng 5-1945, trong hai tài liệu gửi cho phái đoàn Mỹ tham dự Hội nghị Liên hợp quốc, kêu gọi ủng hộ nền độc lập của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký tên “Đảng Quốc dân Đông Dương”(13), mặc dù tên chính thức của Đảng ta lúc bấy giờ là Đảng Cộng sản Đông Dương. Cách làm này phản ánh sự linh hoạt trong sử dụng hình thức và danh xưng chính trị, nhằm tranh thủ sự ủng hộ quốc tế trong điều kiện cụ thể, nhưng không làm thay đổi mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam.
Sau Cách mạng Tháng Tám, hai mươi vạn quân Tưởng kéo vào miền Bắc với ý đồ “diệt Cộng, cầm Hồ”, trong khi hàng chục nghìn quân Pháp theo chân quân Anh quay trở lại miền Nam với dã tâm tái chiếm nước ta. Chính quyền cách mạng non trẻ đứng trước tình thế hết sức hiểm nghèo, “nghìn cân treo sợi tóc”. Ngày 6-10-1945, nói về chính sách đối ngoại của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Với Pháp – rất đơn giản, là Chính phủ buộc Pháp phải công nhận nền độc lập của nước ta. Được thế, về vấn đề khác cũng có thể giải quyết rất dễ dàng”(14). Ngày 28-11-1945, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Người tiếp tục nhấn mạnh: “đối với Pháp: Nhất quyết đòi quyền độc lập. Chỉ có thể nhượng bộ ít nhiều về kinh tế, văn hóa;… đối với Trung Hoa, cùng một nguyên tắc là không nhượng bộ về vấn đề độc lập của Việt Nam”(15).
Nói chuyện với cán bộ ngoại giao vào tháng 1-1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh kể lại việc xử lý quan hệ với các đạo quân của Quảng Đông, Quảng Tây do Tiêu Văn chỉ huy(16), qua đó cho thấy Người đã nắm bắt đúng thực chất đối tượng và vận dụng linh hoạt biện pháp, phương tiện cụ thể trong hoạt động đối ngoại. Biện pháp đó vừa góp phần hóa giải sức ép trước mắt, vừa bảo vệ được mục tiêu căn bản của cách mạng trong điều kiện đặc biệt phức tạp, nhạy cảm.
Tư duy theo mục tiêu trên cơ sở coi trọng phương tiện
Có thể khẳng định, trong toàn bộ quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn việc kiên định mục tiêu với sự chuẩn bị công phu và coi trọng phương tiện cần thiết để hiện thực hóa mục tiêu đã xác định. Giai đoạn 1911 – 1920, khi Người tiếp cận “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V. I. Lê-nin, là giai đoạn học hỏi, khảo nghiệm thực tiễn và tìm tòi con đường cứu dân, cứu nước. Khi con đường cách mạng đã được xác định rõ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tập trung chuẩn bị điều kiện, phương tiện cần thiết để hiện thực hóa mục tiêu khi thời cơ đến.
Tháng 6-1925, Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, tổ chức lớp huấn luyện cán bộ, từng bước xây dựng và tổ chức lực lượng cách mạng. Tháng 2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, đưa quá trình chuẩn bị giành độc lập cho dân tộc bước sang một giai đoạn mới. Trong suốt quá trình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và tham gia những khâu, vấn đề có ý nghĩa quyết định.
Trong Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt do Chủ tịch Hồ Chí Minh biên soạn và được Hội nghị thành lập Đảng (ngày 3-2-1930) thông qua, mục tiêu cách mạng được xác định rõ, đồng thời chiến lược và sách lược để thực hiện mục tiêu cũng được xác lập cụ thể: “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và phong kiến…; dựng ra chính phủ công nông binh; thâu hết sản nghiệp lớn (như công nghiệp, vận tải, ngân hàng lớn…) giao cho chính phủ công nông binh quản lý…; thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân nghèo”(17). Từ ngày 10 đến 19-5-1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Theo đề nghị của Người, Hội nghị quyết định thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh). Tháng 6-1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư Kính cáo đồng bào, gửi các tầng lớp nhân dân cả nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, trai gái, tôn giáo và xu hướng chính trị, ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm giải phóng dân tộc(18).
Tháng 11-1941, khi thành lập đội vũ trang đầu tiên tại tỉnh Cao Bằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh biên soạn “Mười điều kỷ luật và chiến thuật cơ bản của du kích” để huấn luyện đội viên, sau đó phát triển thành tác phẩm Cách đánh du kích bao gồm 13 chương. Tác phẩm được trình bày ngắn gọn, dễ hiểu, nhưng bao quát đầy đủ nội dung cơ bản của chiến tranh du kích, từ tổ chức lực lượng, nguyên tắc hoạt động, kỹ thuật tiến công, phòng ngự, truy kích, rút lui, đến những yêu cầu trong hành quân, đóng quân và xây dựng căn cứ địa(19).
Đầu tháng 12-1944, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo đồng chí Võ Nguyên Giáp đảm nhiệm công tác thành lập lực lượng vũ trang tập trung, trực tiếp thông qua kế hoạch thành lập Đội, đồng thời bổ sung hai chữ “Tuyên truyền” vào tên gọi Đội Việt Nam Giải phóng quân. Giữa tháng 12-1944, Người gửi đồng chí Võ Nguyên Giáp Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Chỉ thị nêu rõ: Tên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền…; đồng thời xác định nguyên tắc tổ chức lực lượng và phương thức tác chiến là “vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, nay đông mai tây, lai vô ảnh, khứ vô tung”(20).
Vận dụng phương pháp tư duy Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới
![]()
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp Tổng thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres, ngày 24-9-2024_Ảnh: Tư liệu
Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới với mục tiêu chiến lược đã được xác định rõ: đến năm 2030, là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Tuy nhiên, việc hiện thực hóa mục tiêu đó diễn ra trong bối cảnh trong nước và quốc tế đặt ra nhiều khó khăn, thách thức. Ở trong nước, sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước đã tạo dựng được nền tảng phát triển tương đối vững chắc, song so với một số quốc gia, như Nhật Bản, Hàn Quốc và nhiều nước khác ở giai đoạn phát triển tương đồng, nền tảng phát triển của Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực khoa học – công nghệ, ở nhiều mặt vẫn còn hạn chế. Ở ngoài nước, cục diện thế giới và khu vực tiếp tục chuyển biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường; kinh tế thế giới tăng trưởng chậm; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng; xu hướng phân mảnh có khả năng ngày càng rõ nét. Trong bối cảnh đó, Tổng Bí thư Tô Lâm đã định hướng rõ, chỉ rõ yêu cầu cấp thiết trong hành động “tạo sự chuyển động mạnh mẽ, dứt khoát, quyết liệt, tích cực, nỗ lực, nội lực, tự tin để vượt qua thách thức, vượt qua chính mình, thực hiện khát vọng, vươn tới mục tiêu, đạt được những thành tựu vĩ đại”(21). Để tạo được sự chuyển động như vậy, trước hết cần tiếp tục đổi mới tư duy.
Vận dụng phương pháp tư duy theo mục tiêu từ tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi quán triệt phương hướng cơ bản: không xuất phát từ các lý thuyết, nguyên tắc hay mô hình có sẵn để xây dựng chính sách, chiến lược, mà phải bắt đầu từ mục tiêu để lựa chọn con đường, hoạch định chính sách và chiến lược phù hợp với bối cảnh cụ thể. Theo đó, mọi chính sách và chiến lược cần được hoạch định và triển khai nhằm trực tiếp phục vụ mục tiêu phát triển đến năm 2030 và năm 2045; thực hiện phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến”, trong đó “bất biến” là mục tiêu chiến lược, không phải là nguyên tắc hay phương thức hành động cụ thể; lấy hiệu quả phục vụ mục tiêu đến năm 2030, năm 2045 làm tiêu chí đánh giá, kiên quyết loại bỏ mô hình, nguyên tắc và phương cách không còn phù hợp với yêu cầu phát triển mới. Riêng trong lĩnh vực đối ngoại, một số định hướng cơ bản sau cần được cân nhắc:
Thứ nhất, nâng cao hiệu quả phục vụ mục tiêu bảo vệ an ninh Tổ quốc trong kỷ nguyên mới; thực hiện tốt vai trò tiên phong của đối ngoại trong bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”; xây dựng thế trận đối ngoại bảo vệ Tổ quốc gắn kết chặt chẽ, hài hòa với thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân và thế trận lòng dân. Bảo đảm, bảo vệ vững chắc quốc phòng, an ninh, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, ổn định chính trị – xã hội và cuộc sống bình an của nhân dân, là điều kiện tiên quyết để phát triển đất nước.
Thứ hai, chuyển mạnh hoạt động đối ngoại sang phục vụ trực tiếp mục tiêu phát triển, lấy kết quả cụ thể trong hợp tác khoa học – công nghệ, mở rộng thị trường, thu hút đầu tư chất lượng cao, thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn và có vị trí ngày càng cao trong chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng toàn cầu làm thước đo hiệu quả của công tác đối ngoại.
Thứ ba, lấy hiệu quả phục vụ mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, năm 2045 làm tiêu chí xác định đối tác ưu tiên trong đối ngoại. Theo đó, trong các nhóm nước láng giềng, nước lớn và đối tác bạn bè truyền thống, cần thực sự ưu tiên đối tác phát triển có tiềm lực mạnh về công nghệ và thị trường; xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù, khác biệt nhằm tăng cường lòng tin chiến lược và mức độ gắn kết lợi ích lâu dài với Việt Nam.
Thứ tư, song hành với quá trình gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia và nâng cao vị thế quốc tế, hoạt động đối ngoại cần được triển khai chủ động, mạnh mẽ và dứt khoát hơn theo định hướng Việt Nam là thành viên tích cực, đối tác có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Việc xử lý vấn đề và động thái đối ngoại cần kịp thời, nhất quán hơn, thể hiện rõ nguyên tắc tôn trọng luật pháp quốc tế; sẵn sàng tham gia và đóng góp tích cực vào việc giải quyết vấn đề thiết thân đối với an ninh và phát triển của đất nước, của khu vực và thế giới, trên cơ sở phù hợp với điều kiện và lợi ích quốc gia – dân tộc.
Thứ năm, phấn đấu trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao, đồng nghĩa với việc đưa đất nước đạt tới vị thế “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” như ước nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo đó, trên tinh thần bám sát chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng, nghiên cứu, chọn lọc, từng bước áp dụng tiêu chí phát triển tiên tiến trên thế giới, phù hợp với điều kiện của Việt Nam trong cả phát triển kinh tế – xã hội và trong hoạt động đối ngoại; trước mắt, cần làm rõ hệ tiêu chí phù hợp với điều kiện Việt Nam trong kỷ nguyên mới, đồng thời xây dựng lộ trình và kế hoạch thực hiện cụ thể nhằm phục vụ hiệu quả nhất quá trình chuyển đổi toàn diện đất nước trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phát triển.
Độc lập, phồn vinh cho đất nước, tự do và hạnh phúc cho nhân dân là mục tiêu suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh; mục tiêu đó chi phối toàn bộ tư duy và hoạt động thực tiễn của Người. Xuất phát từ mục tiêu, Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn nguyên tắc và phương cách hành động phù hợp; nhờ tư duy theo mục tiêu, Người tránh được lối tư duy giáo điều, cứng nhắc, đồng thời luôn coi trọng việc xác định rõ mục tiêu trong từng giai đoạn cụ thể. Trong tư duy theo mục tiêu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng vai trò của phương tiện và công cụ, đồng thời hết sức linh hoạt trong việc sử dụng để hiện thực hóa mục tiêu đã xác định. Đất nước ta đã bước vào kỷ nguyên mới với thời cơ và thách thức lớn hơn so với trước đây; để thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển đến năm 2030 và năm 2045, phương pháp tư duy Hồ Chí Minh cần tiếp tục được quán triệt và vận dụng một cách nhất quán, sáng tạo trong hoạch định, triển khai chính sách, chiến lược phát triển nói chung, lĩnh vực đối ngoại nói riêng./.
Theo vimc.co

Tin cùng chuyên mục:
Phương pháp tư duy Hồ Chí Minh: Tư duy theo mục tiêu và sự vận dụng trong kỷ nguyên mới
Tư duy theo mục tiêu là phương pháp tư ...
Cước tàu biển tăng trở lại, doanh nghiệp Việt Nam cần làm gì?
Đầu tháng 5, giá cước vận tải container trên ...
VIMC tăng tốc thực thi chiến lược 2026, định hình giai đoạn phát triển mới
Ngày 18/4, tại Đại Lải (Hà Nội), Tổng công ...
Sôi nổi Hội thao Thanh niên VIMC 2026: Lan tỏa tinh thần đoàn kết, khát vọng vươn xa của tuổi trẻ hàng hải
Hướng tới chào mừng Kỷ niệm 31 năm Ngày ...
VIMC làm việc với Đoàn doanh nhân Trung Quốc thúc đẩy hợp tác phát triển chuỗi cung ứng xuyên biên giới
Chiều ngày 2/4/2026, tại trụ sở Tổng công ty ...
Khi chi phí không còn là “vua” của chuỗi cung ứng
Toàn cầu hóa đang đi từ tối ưu hóa ...
Chuẩn hóa trang thiết bị đào tạo thuyền viên theo tiêu chuẩn quốc tế
Bộ Xây dựng đề xuất bổ sung quy chuẩn ...
Vận tải biển Việt Nam: Từ vận hành truyền thống đến mô hình xanh
Ngành vận tải biển Việt Nam đang đứng trước ...